HÃNG PHIM TRẺ


 

Tính dân tộc trong mỹ thuật phim truyện Việt Nam

Tính dân tộc trong mỹ thuật phim truyện Việt Nam

(TGĐA) - Mỹ thuật trong phim truyện là việc tái hiện không gian và thời gian, tạo hoàn cảnh xã hội cho nhân vật hành động. Trong phạm vi bài viết này, tôi không đi sâu vào kỹ thuật, thủ pháp kỹ xảo chuyên dung hoặc những công việc chuyên sâu của từng bộ môn do họa sĩ sáng tạo trong thiết kế mỹ thuật điện ảnh mà chỉ xin đề cập ở phạm vi cảm thụ thẩm mỹ của cái đẹp về mỹ thuật trong tác phẩm phim truyện Việt Nam (qua một số phim tiêu biểu).

                                                                                                        alt

Cảnh trong phim Em bé Hà Nội

Như chúng ta đều biết, đặc trưng ngôn ngữ của điện ảnh là tạo nên hình ảnh, cảnh, dựng cảnh, âm thanh, lời thoại – Một loại hình nghệ thuật tổng hợp biểu hiện bằng hình tượng trực tiếp, thuộc kênh nghe nhìn. Với những phương tiện thực hiện là chất liệu như: đường nét, hình khối của bối cảnh, màu sắc, đạo cụ, trang phục, âm nhạc, kiến trúc, hóa trang và các thành phần khác nữa. Dưới sự chỉ huy của người đạo diễn, những thành tố ấy là một sự “cộng sinh” hòa điệu sáng tạo trong một chu trình làm nên cái đẹp, khắc họa bản sắc dân tộc sản sinh ra nó. Do đó, việc cảm thụ thẩm mỹ với cái đẹp mang đặc điểm dân tộc, chứa đựng tính dân tộc, cái đẹp phục vụ cho tư tưởng tình cảm của dân tộc, cho sự sinh tồn và phát triển của dân tộc, phản ánh cái chân – thiện – mỹ, đưa đến cảm xúc diệu kỳ cho người xem, và thong qua cái đẹp đó để nói lên vẻ đẹp riêng của tác phẩm điện ảnh, bằng những hình ảnh cụ thể, dựng lên bức tranh mang tính tạo hình trong không gian đa chiều theo quy luật bố cục của ngôn ngữ điện ảnh.

Thực tế đã chứng minh, ngay từ tác phẩm phim truyện đầu tiên Chung một dòng sông ra đời vào năm 1959. Mặc dù, cái thuở ban đầu ấy, loại hình nghệ thuật thứ bảy này còn mới mẻ đối với phim truyện Việt Nam, như về kỹ thuật và phương tiện thể hiện. Song, vượt lên tất cả là những hình ảnh hàm chứa giá trị thẩm mỹ, đã mở ra một khởi nguyên mới đóng góp vào việc tạo nên tính dân tộc trong phim truyện Việt Nam, chinh phục được tình cảm bạn bè quốc tế. Bằng hình ảnh thị giác, tạo phong cách dân tộc, trong hoàn cảnh đất nước Việt Nam, với tư duy hiện thực và phương pháp hiện thực xuyên suốt cả chặng đường hình thành và phát triển của loại hình nghệ thuật này cho tới hôm nay.

                                                                       alt

Cảnh trong phim Bao giờ cho đến tháng Mười

Từ phim truyện Chung một dòng sôngcho đến những tác phẩm sau này: Con chim vành khuyên; Cánh đồng hoang; Hòn đất; Sao tháng Tám; Mùa gió chướng; Hai người lính; Vĩ tuyến 17- Ngày và đêm; Chị Tư Hậu; Đường thưđã miêu tả những con người bình dị, có thực trong cuộc sống, từ em nhỏ đến cụ già, mọi tầng lớp nhân dân cùng có phẩm chất kiên cường, yêu hòa bình, sẵn sàng hi sinh để bảo vệ độc lập tự do. Cái đẹp muôn đời về tinh thần yêu nước của dân tộc Việt Nam, nó được nhân rộng, kế thừa và tiếp nối từ thế hệ này đến thế hệ khác như các hình ảnh:

- Bé Nga trong phim Con chim vành khuyên(đạo diễn Nguyễn Văn Thông – Trần Vũ). Hình tượng bé Nga nhảy dây, một tín hiệu bình yên của cuộc sống và cảnh em bị trúng đạn của địch, nằm xuống ở bên sông, thanh thản hiến dâng tuổi thơ của mình để cứu đoàn cán bộ hoạt động cách mạng, góp phần vào cuộc kháng chiến dành độc lập tự do cho Tổ quốc.

- Anh Trỗi trong phim Nguyễn Văn Trỗi(đạo diễn Bùi Đình Hạc) người thanh niên đã gác hạnh phúc của cá nhân để hoạt động Cách mạng. Khi bị địch bắt, trước pháp trường vẫn giữ tấm lòng kiên trung nêu cao tinh thần yêu nước, ý chí bất khuất chống bạo lực cường quyền. Còn vang vọng mãi câu nói Hãy nhớ lấy lời tôi!... viết lên bản anh hùng ca bất diệt đầy chất trữ tình lạc quan của những người con đất Việt, khơi gợi tư duy của nhân dân, những người yêu chuộng hòa bình chống chiến tranh trên thế giới.

- Chị Vân trong phim Nổi gió(đạo diễn Huy Thành) hiên ngang đi giữa hai hang lưỡi lê của địch, hy sinh chính bản thân mình, tự đốt lửa trên đôi bàn tay, biểu trưng cho ngọn lửa của tinh thần đấu tranh bất khuất, như ngọn đuốc rực cháy, thắp sáng thức tỉnh lương tri con người về với cái thiện, hướng tới cuộc sống an bình.

 Cội nguồn dân tộc phản ánh chân thực tâm hồn cao đẹp, đầy tính nhân văn như các tác phẩm: Mẹ vắng nhà; Em bé Hà Nội; Bao giờ cho đến tháng Mười; Đến hẹn lại lên; Câu chuyện làng dừa; Đường về quê mẹ; Ai xuôi vạn lý; Huyền thoại về người mẹ; Cỏ lau; Thương nhớ đồng quêHình tượng và ngôn ngữ điện ảnh phong phú sinh động, làm cho người xem thấy được truyền thống tốt đẹp với những tấm lòng đôn hậu của người mẹ, người vợ, tình đồng chí, nghĩa đồng bào, tương than, tương ái dù ở hoàn cảnh cam go trong chiến tranh cũng như trong cuộc sống đời thường sau chiến tranh, biết sống và hy sinh, cả cách đối nhân xử thế, ân tình với những người đã ngã xuống để họ có được cuộc sống hôm nay. Một đạo lý uống nước nhớ nguồn đậm sâu trong con người từ ngàn xưa, cả trong đời sống hiện thực lẫn đời sống tâm linh của dân tộc Việt Nam. Những hình ảnh mang tính ẩn dụ từ tâm thức đến hoàn cảnh bên ngoài như: Giấc mơ của người vợ gặp chồng ở cõi âm, tuy đã hy sinh cho đất nước nhưng vẫn trao lại cho nhau những nhiệm vụ còn dang dở, nỗi trăn trở với cuộc sống dương thế. Những ngọn đèn tưởng niệm dập dềnh trôi trên mặt nước ở con sông quê hương vào đêm ngày Rằm tháng bảy, dịp lễ “Vu lan Bồn” (Bao giờ cho đến tháng 10đạo diễn Đặng Nhật Minh). Hay ký ức trong cõi long của mẹ về người con gái dịu hiền vì nghĩa lớn của dân tộc đã ra đi khi tuổi xuân đang trào dâng với bao niềm khát vọng ước mơ của người con gái Hà Nội (Đừng đốtđạo diễn Đặng Nhật Minh). Đôi cánh bướm nhẹ bay như bàn tay vẫy chào lưu luyến, hòa trong cảnh chùa với âm hưởng của bài kinh Bát Nhã, lan tỏa vào cõi hư không – tưởng nhớ người đã khuất, siêu độ vong linh, hướng tới sự an bình của cuộc sống cho cả người ở thế giới bên kia… Những cái đẹp, cái thiện cái anh hùng sự bình dị ấy gắn bó với số phận quốc gia với hạnh phúc của nhân dân là những hình tượng bất diệt với thời gian. Cái đẹp của hình tượng nghệ thuật bao giờ cũng hàm chứa nội dung con người, ở đấy nhân học và mỹ học đã hòa tan trong hình tượng nghệ thuật. Chính cái hình tượng đó là vẻ đẹp chân chính của mỹ thuật điện ảnh, đã phản ánh rõ nét tâm hồn cao đẹp của con người Việt Nam.

Chúng tôi xin được nhấn mạnh đến một trong những phương tiện góp phần làm đậm dấu ấn dân tộc trong mỹ thuật điện ảnh, đó là trang phục điện ảnh nó cũng là những tác phẩm mỹ thuật. Trang phục điện ảnh bắt nguồn từ trang phục đời thường về hình dáng, màu sắc, chất liệu… được nghệ thuật hóa ở mức cần thiết và được hình thành từ nội dung tác phẩm, tạo phương tiện cho diễn viên, góp phần thành công cho hình tượng nghệ thuật và nổi rõ bản sắc dân tộc:

- Chiếc khăn rằn, mái tóc dài với bộ quần áo bà ba đen gọn gang khỏe khoắn của chị Sứ trong phim Hòn đấthòa vào không gian sông nước, hàng kênh soi bóng dừa với dáng đứng vươn cao cũng là vẻ đẹp điển hình của những người mẹ người chị trong đội quân tóc dài, những người con nơi Thành Đồng của Tổ quốc kiên cường trước kẻ địch, đậm sắc màu của đồng bằng Nam Bộ.

- Bộ áo dài mớ ba, tấm khăn vuông mỏ quạ, chiếc nón thúng quai thao của cô Nết trong phim Đến hẹn lại lên, những gam màu của trang phục quyện với làn điệu quan họ lung linh dưới gốc cây đa đình làng, những nét đẹp duyên dáng bình dị của người phụ nữ với nghề tằm tang canh cửi làm nên những tấm lụa mềm mại. Cần cù, một nắng hai sương bên bãi dâu, nương lúa mang đậm chất dân gian sâu lắng trữ tình của vùng quê Kinh Bắc.

- Tấm váy thổ cẩm của Mỵ trong phim Vợ chồng A Phủ cùng mái tóc quấn cao trên đầu, mang nét đặc thù của người H’Mông. Màu sắc hoa văn trên trang phục đung đưa theo nhịp bước chân, cuốn hút vào cảnh sắc thiên nhiên của vách đá cheo leo, từng đào, hoa mận, với tiếng khèn gọi bạn trầm vang mênh mang đầy ấn tượng của vùng cao Tủa Chùa Lai Châu tây bắc Việt Nam.

- Chiếc khăn đầu rìu, tấm áo vạt hò, đôi guốc mộc… trong phim Thằng Bờm, bên cạnh khóm tre, cái ao bèo, đống rạ, chum nước dưới gốc cau… cho ta một bức tranh nông thôn Việt Nam mộc mạc, ấm nồng, giàu chất thơ của đồng bằng Bắc Bộ.

- Đến cả những bộ phận nhỏ cấu thành trên trang phục của dân tộc như cái túi bé xinh ở vạt áo cánh của Nga (Con chim vành khuyên) khi được khai thác, nó đã phát huy thật đắc địa. Trước khi trút hơi thở cuối cùng, bé Nga đưa tay tháo chiếc ghim băng ở miệng túi, con chim nhỏ bay ra, vút đôi cánh lên bầu trời thì giá trị thực dụng và thẩm mỹ của trang phục đã hòa vào hình tượng nghệ thuật tạo nên bức tranh sống động của mỹ thuật điện ảnh, gây ấn tượng xúc cảm cho người xem về khát vọng tự do của cuộc sống.

                                                                              alt

Cảnh trong phim Con chim vành khuyên

 Như vậy, mũ khăn, quần áo của đời thường lên tác phẩm điện ảnh nếu hội đủ những yêu cầu về tính đặc trưng của từng đề tài, cũng như tính chân thực lịch sử và hài hòa với những thành tố khác trong phim truyện thì nó đã cho hiệu quả thẩm mỹ cao, đậm sắc màu dân tộc.

 Hơn nửa thế kỷ hình thành và phát triển, phim truyện Việt Nam đã gặt hái được những thành công nhất định, chúng ta rất tự hào có nhiều bộ phim đã để lại ấn tượng sâu sắc trong trí nhớ người xem về những ước mơ tình cảm khát vọng cuộc sống đậm hồn dân tộc. Đặc biệt là về đề tài chiến tranh Cách mạng thống nhất đất nước, đã là một dấu son đẹp của điện ảnh Việt Nam. Song còn đó những trăn trở về nhiều mặt mà những người trong cuộc đã và đang bàn luận trên các phương tiện thông tin khác nhau. Tôi xin nêu một vài cảm nghĩ của một người ngoài “biên chế” ngành điện ảnh:

- Dựa trên ý kiến của một tác giả trong ngành điện ảnh đánh giá về thành quả phim truyện Việt Nam: phim của chúng ta kém kỹ xảo, kỹ thuật nhưng tinh tế về tình người. Vâng đúng vậy! Nhưng để đi lên, vươn xa cùng hội nhập với nền điện ảnh tiên tiến trên thế giới thì theo tôi chưa đủ. Bởi lẽ, một nền nghệ thuật điện ảnh với những phim chỉ bộc lộ tư tưởng thì mới được một vế, còn việc đáp ứng nhịp sống của thời đại? Đối tượng khán giả hôm nay họ có điều kiện tiếp cận đa chiều của các kênh nghe nhìn hiện đại, họ có kiến thức về khoa học, trình độ cảm thụ nghệ thuật cao, họ đòi hỏi tính thẩm mỹ toàn diện trong một tác phẩm điện ảnh. Và đương nhiên rằng, không chỉ có hình thức mà còn phải dân tộc cả về nội dung tư tưởng mang tính nhân văn cao. Phim truyện của chúng ta còn có những tác phẩm chưa đậm đặc về tính chân thực lịch sử, tính hấp dẫn của tác phẩm, sự sâu sắc của nhân vật và tuổi thọ của phim. Đặc biệt là phim về đề tài lịch sử còn nhạt nhòa về màu sắc, chất liệu, kỹ thuật… Nguyên nhân chủ quan về phía người sáng tạo thì xin được lắng nghe, bởi hơn ai hết những người trong cuộc mới có câu trả lời đúng đắn nhất. Còn riêng tôi xin phép nặng về cảm nghĩ khách quan: Sáu mươi năm một chặng đường của phim truyện Việt Nam từ không đến có, với quãng thời gian được trải nghiệm rất quý báu của thực tiễn trong nước và điều kiện hội nhập hôm nay thuận lợi cho sự tiếp cận, học hỏi những tinh hoa của nền nghệ thuật điện ảnh tiên tiến trên thế giới, để áp dụng xây dựng cho phim truyện Việt Nam về đề tài lịch sử. Thực tế điện ảnh của ta về mảng này chưa làm được nhiều?

                                                                     alt

Cảnh trong phim Cánh đồng hoang

- Thử tìm nguyên nhân, tôi cho rằng: Chúng ta không thiếu hay kém hay về chất liệu lịch sử, các nhà văn viết kịch bản tâm huyết, tri thức bản lĩnh đạo diễn, trình độ nghiên cứu và sức sáng tạo của nghệ sỹ cũng như sự am hiểu khoa học kỹ thuật ở nhiều lĩnh vực khác nhau để cùng tham gia tạo dựng tác phẩm. Ngoài việc đòi hỏi cao hơn về nội lực, tâm huyết của người nghệ sỹ sáng tạo, có lẽ còn thiếu một phần quan trọng nữa đó là: Sự quan tâm đầu tư chưa được triệt để của phía Nhà nước cũng như các cấp các ngành có lien quan về sự chỉ đạo, định hướng chiến lược, về hạ tầng cơ sở mang tính bền vững như: Trường quay để tạo dựng bối cảnh, xưởng thiết kế mỹ thuật để thể nghiệm chất liệu trang phục đạo cụ, kinh phí, cơ chế chính sách… Bởi những cơ sở vật chất cũng như quy chế được hoạch định rõ ràng sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ hội nghiên cứu, sáng tạo nghệ thuật. Cũng là đầu tư cho chiến lược trong xây dựng một nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Ngoài ra còn cần có đội ngũ lý luận phê bình am hiểu, mang tính học thuật, giúp người xem cảm thụ những cái hay cái đẹp, người làm nghề nhìn ra những hạn chế để rút kinh nghiệm mà khắc phục, phát huy những ưu điểm. Bởi lý luận phê bình là điểm tựa chắp cánh cho thực tiễn chứ không chỉ là phê phán hoặc tán dương một chiều. Rồi những vấn đề về mối quan hệ giữa lịch sử và sáng tạo nghệ thuật, vai trò hư cấu, trách nhiệm người nghệ sỹ trong sáng tạo về đề tài lịch sử… Hình như những vấn đề trên nghe có vẻ là đã “xưa” lắm rồi! Nhưng thưa rằng, nó lại là vấn đề muôn thủa mà ở mỗi giai đoạn phát triển của xã hội, nó cần có sự điều chỉnh bổ sung để tương thích với tầm nhận thức của thời đại. Thực tế hiện nay những vấn đề trên trong ngành điện ảnh phim truyện của ta chưa thực sự được đẩy mạnh. Mong sao các cơ quan hữu trách đồng thuận cùng đặt trách nhiệm với lịch sử, đưa ra những biên độ rõ rang thì nó sẽ là động lực mạnh mẽ cho nghệ sỹ sáng tạo. Chắc chắn điện ảnh Việt Nam sẽ tạo nên những tác phẩm phim truyện về đề tài lịch sử có sức hấp dẫn làm sống lại các thời đại, sự kiện, nhân vật đã có công giữ nước dựng nước oanh liệt hào hùng của cha ông từ ngàn xưa – đậm sâu một nền văn hiến Việt Nam.

 Nhân đây, tôi xin được nhắc tới hai cố họa sỹ vừa là thầy trước khi tôi đi tu nghiệp ở nước ngoài vừa là cộng sự sau khi về nước trong lĩnh vực điện ảnh và sân khấu: Một là NSND Họa sỹ Đào Đức; Hai là Họa sỹ tạo hình hóa trang Nhữ Đình Nguyên – Một nén tâm nhang tri ân hai Nghệ sỹ bậc thầy của tôi và cũng là hai Họa sỹ đã có nhiều đóng góp cho mỹ thuật điện ảnh Việt Nam.

 Tôi cũng xin phép được chia sẻ sự cảm thông với các anh các chị họa sỹ đã và đang theo nghiệp mỹ thuật điện ảnh, một nghề cũng lắm cam go, luôn phải tự làm mới mình, tự giấu mình để ánh hào quang của mỹ thuật sáng chung cùng tác phẩm điện ảnh.v

Họa sỹ - NSƯT Đoàn Thị Tình

ST theo thegioidienanh.vn

 

Chia sẻ với bạn bè
 

Đĩa than mới